Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2020

Thơ Trào Phúng - 1-9


1.Что делать?

Жена министра вздумала писать
И принесла стихов не меньше пуда.
Что делать? Эти вирши не издать
В сто раз труднее, чем издать Махмуда.

1.LÀM GÌ ĐÂY?

Vợ ông Bộ trưởng bỗng nhiên thích viết
Mang đến tập thơ không dưới chục cân*.
Làm gì đây? Thơ này không in được
Khó hơn in thơ Mahmud cả trăm lần.
______
Một pud (trong nguyên bản) – đơn vị đo lường của Nga từ năm 1899 bằng 16,38 kg.


2.Моему другу-поэту, о котором
его мать, старая аварка сказала:

Когда-то говорить он не умел,
И все же, мать, я сына понимала,
Давно заговорил он и запел,
И понимать его я перестала.

2.GỬI NGƯỜI BẠN – NHÀ THƠ MÀ MẸ
CỦA ANH TA, BÀ GIÀ NGƯỜI AVA NÓI VẬY:

Cái thuở nó hãy còn chưa biết nói
Nhưng là mẹ, tôi hiểu con trai mình
Còn từ ngày nó nói và hát lên
Thì tôi không còn làm sao hiểu nổi.


3.Единственному поэту

Других певцов в твоем народе нет,
Ты с пользой для себя усвоил это:
Ведь появись любой другой поэт,
Тебя бы не считали за поэта.

3.GỬI NHÀ THƠ DUY NHẤT

Dân tộc anh không có những nhà thơ khác
Nên anh lấy điều này làm lợi thế cho mình:
Bởi nếu xuất hiện một nhà thơ nào khác
Thì anh không được coi là nhà thơ nữa đâu anh.


4.Некоему переводчику на аварский

Тебе, пожалуй, повезло в одном:
Для автора твой труд мудрен и таен.
Зато тебе не повезло в другом:
Аварцы – мы язык аварский знаем!

4.GỬI MỘT DỊCH GIẢ SANG TIẾNG AVA

Có lẽ bạn may mắn một điều là:
Việc bạn làm khôn ngoan và bí mật.
Nhưng bạn không may ở trong điều khác:
Người Ava – chúng tôi biết tiếng Ava. 


5.Жене одного поэта

Твой муж поэт других не хуже,
И ты отлично ценишь стих:
Хоть не читаешь строки мужа,
Зато всегда считаешь их.

5.GỬI NGƯỜI VỢ CỦA MỘT NHÀ THƠ

Chồng em không kém những nhà thơ khác
Và em là người hiểu biết về thơ:
Dù thơ của chồng em không hề đọc
Nhưng em thường xuyên đếm những bài thơ.



6.Литератору, который часто меняет жанры

В своих исканьях ты как мой сосед:
Он жен менял едва ль не ежегодно
И людям объяснял: «Ребенка нет.
С женою год мы прожили бесплодно!»

Брат по перу, тебе сказать хочу:
Переменил ты жанров многовато.
Нет у тебя детей – сходи к врачу,
Возможно, что жена не виновата.

6.GỬI NHÀ VĂN THƯỜNG XUYÊN
THAY ĐỔI THỂ LOẠI

Trong việc tìm tòi bạn giống ông hàng xóm:
Người này dường như thay đổi vợ hàng năm
Rồi giải thích với thiên hạ rằng: “Chẳng có con.
Với người vợ vô sinh suốt năm trời đã sống!”

Hỡi người bạn nhà văn, tôi muốn nói rằng:
Bạn đã từng đổi thay rất nhiều thể loại.
Nếu chẳng có con – hãy đi tìm bác sĩ
Để xem vợ của mình có lỗi gì không.


7.Слово, сказанное Ирчи Казаком
автору пьесы о нем

При жизни горя видел я немало,
Но я тебе признаюсь, мой земляк,
Что и тюрьма царя, и плеть шамхала
В сравненье с пьесою твоей – пустяк.

7.LỜI CỦA IRCHI COSSACK NÓI VỚI
TÁC GIẢ CỦA VỞ KỊCH VIẾT VỀ ÔNG

Trong cuộc đời đau thương tôi đã thấy vô vàn
Nhưng với người đồng hương tôi xin thú nhận
Rằng nhà tù của vua và roi của Shamkhal
So với vở kịch viết về ông – chỉ là vớ vẩn.
________
* Irchi Cossack (1830 – 1879) – nhà thơ cổ điển Dagestan.
**Shamkhal – là tước hiệu của những người cai trị Dagestan và một phần vùng đông – bắc Kapkage.


8.Назойливому поэту

Хвалил Омар, хвалил Али,
Я погрешу хвалой немалой,
Тебя ведь, брат, не похвали,
Так не избавишься, пожалуй.

8.GỬI NHÀ THƠ THÍCH LÀM PHIỀN

Từng khen Omar, từng khen Ali
Tôi cũng phạm không ít lời khen ngợi
Nhưng mà người anh em, chớ khen gì
Kẻo rồi bạn cũng sẽ không thoát khỏi.



9.Переводчику лермонтова на аварский язык

В котов домашних превратил ты барсов,
И тем позорно будешь знаменит,
Что Лермонтов, к печали всех аварцев,
Тобою, как Мартыновым, убит.


9.GỬI NGƯỜI DỊCH THƠ LERMONTOV
RA TIẾNG AVA

Bạn đã biến hổ báo thành mèo nhà
Và sẽ nổi tiếng bằng điều ô nhục
Rằng Lermontov, nỗi buồn người Ava
Bị giết bởi bạn, giống như Martynov.
____________
* Nikolai Martynov (1815 – 1875) – kẻ đã giết chết nhà thơ Mikhail Lermontov (1814 – 1841) trong cuộc đấu súng ở Pyatigorsk ngày 15 tháng 7 năm 1841.


THƠ TÁM CÂU - 241-250



241
Мои стихи не я вынашивал,
Бывало всякое, не скрою:
Порою трус пером их сглаживал,
Герой чеканил их порою.

Влюбленный их писал возвышенно,
И лжец кропал, наполнив ложью,
А я мечтал о строках, писанных,
Как говорят, рукою божьей.

241
Thơ của tôi chẳng phải tôi ấp ủ
Muôn vẻ khác nhau, tôi chẳng giấu là:
Đôi khi do kẻ hèn nhát viết ra
Đôi khi anh hùng hun đúc ra nó.

Người đang yêu viết dòng thơ cao quí
Kẻ dối gian viết bằng sự dối gian
Còn tôi mơ những dòng, như lời đồn
Rằng được viết bởi bàn tay của Chúa.



242
«Скажи мне, наша речка говорливая,
Длиною в сотни верст и сотни лет:
Что видела ты самое красивое
На этих сотнях верст за сотни лет?»

Ответила мне речка края горного:
«Не знала я красивей ничего
Бесформенного камня - камня черного
У самого истока моего».

242
“Hãy nói giùm, dòng suối thích hiểu biết
Có độ dài trăm dặm, sống trăm năm:
Rằng ngươi từng thấy điều gì đẹp nhất
Khi đi qua trăm dặm, sống trăm năm?”

Trả lời tôi con suối bên cạnh núi:
Ta chưa từng thấy thứ gì đẹp hơn
Hòn đá biến hình thù, hòn đá đen
Ở chính đầu nguốn của ta hết thảy”.




243
«Мудрец великий должен быть имамом», -
На сходе предлагал седой наиб.
«Храбрец великий должен быть имамом», -
Наибу возражал другой наиб.

Наверно, проще править целым светом,
Чем быть певцом, в чьей власти только стих,
Поскольку надо обладать поэтам,
Помимо этих, сотней свойств других.

243
“Nhà thông thái cần là một Imam” –
Một người Naib đề nghị trong buổi họp.
“Người dũng cảm cần là một Imam” –
Lời phản đối này của một người Naib khác.

Có lẽ cai trị cả thế giới còn dễ dàng hơn
Là làm một nhà thơ, chỉ thơ là quyền lực
Bởi vì rằng để làm một nhà thơ thì cần
Ngoài những thứ này, còn cả trăm thứ khác.
________________
*Imam – là một vị trí lãnh đạo trong Hồi giáo;  Naib – là vị trí phó hoặc trợ lý của một số tù trưởng hoặc giáo sĩ ở các quốc gia Hồi giáo thời trung cổ.



244
В горах дагестанских джигиты, бывало,
Чтоб дружбу мужскую упрочить сильней,
Дарили друг другу клинки, и кинжалы,
И лучшие бурки, и лучших коней.

И я, как свидетельство искренней дружбы,
Вам песни свои посылаю, друзья,
Они - и мое дорогое оружье,
И конь мой, и лучшая бурка моя.

244
Đôi khi những kỵ sĩ ở trên núi Dagestan
Để củng cố tình bạn đàn ông thêm vững chắc
Họ đem tặng cho nhau cả kiếm và dao găm
Và những con ngựa, áo buốc-ca tốt nhất.

Và để chứng minh cho tình bạn chân thành
Những bài ca của mình tôi đem gửi tặng
Chúng là vũ khí thân yêu của tôi đó bạn
Thêm cả áo buốc-ca, và cả ngựa của mình.




245
Есть три заветных песни у людей,
И в них людское горе и веселье.
Одна из песен всех других светлей -
Ее слагает мать над колыбелью.

Вторая - тоже песня матерей.
Рукою гладя щеки ледяные,
Ее поют над гробом сыновей...
А третья песня - песни остальные.

245
Ba bài ca thầm kín ở mọi người
Trong đó có niềm vui và nỗi khổ.
Bài thứ nhất sáng sủa hơn tất cả
Là bài ca mà mẹ hát đưa nôi.

Bài thứ hai – cũng là bài của mẹ.
Trên má giá băng ve vuốt bàn tay
Người ta hát trên mộ đứa con trai…
Bài thứ ba – là những bài còn lại.


246 
Сердце джигита — горящий костёр.
Девушка, будь осторожна:
Можно огонь погасить, разорить,
Искрой обжечься можно.

Сердце джигита — острый кинжал.
Девушка, будь осторожна:
Можно кинжал уронить, затупить,
Руку поранить можно.

246
Trái tim kỵ sĩ cháy như ngọn lửa
Cô gái ơi, xin em hãy coi chừng:
Em có thể dập tắt, tàn phá nó
Có thể bỏng bằng tia lửa như không.

Trái tim kỵ sĩ là con dao sắc
Cô gái ơi, xin em hãy coi chừng:
Em có thể làm cùn hay để rớt
Bàn tay em có thể bị tổn thương.




247
Еще вчера по птичьим гнездам лазил,
Друзей-мальчишек в скалы заманя,
Пришла любовь, строга и синеглаза,
И сразу взрослым сделала меня.

Еще вчера себя считал я взрослым,
Седым и мудрым до скончанья дней.
Пришла любовь и улыбнулась просто,
И снова я мальчишка перед ней.

247
Hôm qua tôi đã trèo lên tổ chim
Trên vách đá dụ bé con – người bạn
Tình yêu đến, nghiêm khắc, đôi mắt xanh
Ngay lập tức biến tôi thành người lớn.

Hôm qua tôi coi mình là người lớn,
Tóc bạc, khôn ngoan cho đến cuối ngày.
Tình yêu đến và mỉm cười đơn giản
Tôi lại trở thành cậu bé thơ ngây.


248
Мне случалось видеть иногда:
Златокузнецы - мои соседи -
С помощью казаба без труда
Отличали золото от меди.

Мой читатель - ценностей знаток,
Мне без твоего казаба тяжко
Распознать в хитросплетенье строк,
Где под видом золота - медяшка.

248
Có đôi khi tôi tình cờ nhìn thấy
Hàng xóm của tôi – những thợ kim hoàn
Họ dùng “kazab” và không hề khó
Để phân biệt rõ giữa vàng với đồng. 

Bạn đọc của tôi – những người sành sỏi
Mà thiếu họ, tôi sẽ rất khó khăn
Nhận biết ra trong những dòng kết nối
Dưới vỏ bọc vàng, thực ra là đồng. 




249
На сабле Шамиля горели
Слова, и я запомнил с детства их:
«Тот не храбрец, кто в бранном деле
Думает о последствиях!"

Поэт, пусть знаки слов чеканных
Живут, с пером твоим соседствуя:
«Тот не храбрец, кто в деле бранном
Думает о последствиях». 

249
Trên thanh kiếm Sa-min từng cháy lên
Những lời tôi thuộc từ thời thơ ấu:
“Kẻ hèn nhát, anh người đang chiến đấu
Lại nghĩ suy về hậu quả của mình!”

Nhà thơ hãy để cho những lời trên
Chung sống cùng, tiếp sức cho ngòi bút:
“Kẻ hèn nhát, anh người trong trận mạc
Lại nghĩ suy về hậu quả của mình!”


250
В старину писали не спеша
Деды на кинжалах и кинжалами
То, что с помощью карандаша
Тщусь я выразить словами вялыми.

Деды на взлохмаченных конях
В бой скакали, распрощавшись с милыми,
И писали кровью на камнях
То, что тщусь я написать чернилами. 

250
Thời xa xưa ông cha không vội vã
Dùng dao này để viết lên dao kia
Những gì mà tôi với cây bút chì
Cố thể hiện bằng những lời héo úa. 

Ông cha xưa ngồi trên ngựa xù lông
Phóng ra trận, chia tay người yêu dấu
Và đã viết bằng máu lên trên đá
Những gì tôi cố viết bằng mực đen. 


THƠ TÁM CÂU - 235-240



235
Когда устану я от странствий долгих
И по родной, и по чужой земле -
Пойду пешком к родительскому дому
И сяду на базальтовой скале.

Когда стихи писать я перестану,
Мне памятник найдется без труда,
Нет, не гранит в столице Дагестана -
Простой базальт в селении Цада.

235
Khi mệt mỏi vì những chuyến lang thang
Trên quê mình hay những miền đất lạ –
Tôi đi bộ ghé ngôi nhà cha mẹ
Và ngồi lên một tảng đá bazan.

Khi mệt mỏi, khi thơ tôi không làm
Tôi vẫn tìm ra tượng đài rất dễ
Không tượng đá hoa cương ở thủ đô Dagestan
Mà ở làng Tsada, bằng đá bazan giản dị.



236
Какая вершина в сиянии белом
Над нашей землей выше всех вознеслась?..
Наверное, та, что меж словом и делом
Нарушила некогда прочную связь.

Какая река всех длиннее и шире,
Что мы только с морем безбрежным сравним?..
Наверное, та, что течет в этом мире
Меж тем, что мы можем, и тем, что хотим.

236
Đỉnh cao nào trong hào quang màu trắng
Cao hơn tất cả trên mặt đất này?...
Đấy là đỉnh giữa lời và hành động
Phá mối quan hệ bền chặt một thời.

Con sông nào dài rộng hơn tất cả
Ta chỉ đem so với biển vô bờ?...
Đấy là sông chảy trong thế giới này
Giữa những gì ta mong và có thể.



237
Ученый муж качает головой,
Поэт грустит, писатель сожалеет,
Что Каспий от черты береговой
С годами отступает и мелеет.

Мне кажется порой, что это чушь,
Что старый Каспий обмелеть не может.
Процесс мельчанья человечьих душ
Меня гораздо более тревожит.

237
Nhà khoa học đành lắc đầu bất lực
Nhà thơ buồn, nhà văn thấy tiếc thay
Rằng biển Caspi cạn theo tháng ngày
Giới hạn bờ càng ngày càng lùi tiếp.

Với tôi điều này trở nên vô nghĩa,
Biển Caspi già vẫn cứ thế thôi.
Quá trình nông cạn tâm hồn con người
Làm tôi lo lắng nhiều hơn thế nữa.



238
Вершина далекая кажется близкою.
С подножья посмотришь - рукою подать,
Но снегом глубоким, тропой каменистою
Идешь и идешь, а конца не видать.

И наша работа нехитрою кажется,
И станешь над словом сидеть-ворожить,
Не свяжется строчка, и легче окажется
Взойти на вершину, чем песню сложить.

238
Đỉnh núi cao mà cứ ngỡ rất gần
Nhìn dưới chân – vẻ trong tầm tay bạn
Nhưng tuyết dày, đường đá trơ chơ chỏng
Bạn cứ đi, chẳng thấy điểm cuối cùng.

Việc làm thơ, có vẻ cũng tầm thường
Cứ ngồi đoán theo lời và tiếp tục
Không thành dòng, cứ ngỡ như dễ dàng
Lên đỉnh núi, hơn là thơ viết hết.



239
Положенье, должности людей,
Званья, до небес превознесенные,
Знаю я, что нет у вас друзей,
Есть начальники и подчиненные.

Неужель когда-нибудь и сам,
Наплевав на дорогое самое,
Я в угоду званьям и чинам
Отвернусь хоть раз от вас, друзья мои?

239
Những vị trí, chức vụ của con người
Những tên gọi tận trời xanh văng vẳng
Tôi biết rằng các anh không có bạn
Chỉ cấp trên và cấp dưới mà thôi.

Chẳng lẽ một khi nào đó, tự tôi
Sẽ vứt hết những gì thân quí nhất
Đi chiều theo học hàm hay cấp bậc
Và quay lưng với những bạn bè tôi?



240
Время мое не щадило героев,
Не разбирало, кто прав, кто не прав,
Время мое хоронило героев,
Воинских почестей им не воздав.

Время кружило, родство обнаружив
С птицей, над полем вершащей полет,
С птицей, которая храбрых от трусов
Не отличает, глаза им клюет.

240
Thời của tôi không thương những anh hùng
Không xem xét rằng ai sai, ai đúng
Thời của tôi chôn hết những anh hùng
Và danh dự không đền bù xứng đáng.

Thời gian trôi, mối tình thâm tìm được
Với những con chim bay lượn trên đồng
Không phân biệt ai dũng cảm ai hèn
Chim mổ mắt của những người đã chết.