Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2020

THƠ BỐN CÂU - 31-40


31
Зимние ночи, зимние ночи,
Я не прошу вас стать покороче.
Пусть мои мысли станут длиннее,
Жизнь – очевидней и смерть – виднее.

31
Đêm mùa đông, ôi những đêm mùa đông 
Cứ để vậy, xin hãy đừng ngắn lại 
Hãy cứ để cho suy nghĩ dài hơn 
Cái chết rõ hơn, cuộc đời cũng vậy. 


32
Совсем не тем, что снег пошел, я возмущен…
Но как твоих волос посмел коснуться он!
Я ветер не виню, что дует он, трубя,
Но как обидно мне, что обнял он тебя!..

32
Anh không ngạc nhiên khi trời rơi đầy tuyết 
Nhưng sao tuyết cả gan chạm lên mái tóc em! 
Anh cũng không trách gì ngọn gió kia gào thét 
Nhưng thấy mếch lòng khi ngọn gió ôm em! 


33
Я видел, как осень, ветрами продута,
Гудела, цветы и растенья губя.
И дал себе слово я в эту минуту,
Не сравнивать больше с цветами тебя. 

33
Anh nhìn thấy mùa thu nổi gió 
Kêu vù vù, thổi giạt cỏ và hoa 
Anh tự nhủ lòng mình trong phút đó 
Không bao giờ đưa em sánh với hoa. 


34
«Не мешай мне петь и до конца,
Птица, песню выслушай мою!»
«Если у тебя душа певца,
Сам молчи, покуда я пою!»

34
“Chim chóc ơi, xin chim hãy nghe tôi 
Xin hãy để tôi hát cho xong nhé!” 
“Nếu như người có tâm hồn thi sĩ 
Hãy im đi, khi chim hát, người thôi!” 



35
Ты молод? Не печалься, постареешь.
Не любишь? Полюбить еще успеешь.
Ты глуп? Еще, быть может, помудреешь.
Ты стар? Увы! Уж не помолодеешь.

35
Ngươi còn trẻ? Rồi sẽ già, đừng buồn. 
Ngươi chưa yêu? Rồi sẽ yêu, đừng vội. 
Ngươi dại dột? Có thể rồi sẽ khôn. 
Ngươi đã già? Than ôi! Không trẻ lại. 


36
Приходит смерть, сулит мне райский сад,
Нашептывает в уши, точно сводня.
Я говорю: пусть лучше будет ад,
Но только чтобы завтра, не сегодня.

36
Cái chết khoe với tôi chốn bồng lai 
Ghé vào tai: hãy đi đà đến lúc. 
Tôi trả lời: tôi xin về địa ngục 
Nhưng ngày mai chứ không phải hôm nay. 


37
Юность, юность – комедия, вспомнить смешно…
Зрелость – драма. Ее уж сыграл я давно.
Нынче старость. Играю трагедию я.
Опускается занавес бытия.

37
Nhớ lại tuổi xuân giống như hài kịch 
Tuổi trưởng thành – chính kịch. Tôi đóng đã từ lâu 
Bây giờ tuổi già tôi vào vai bi kịch 
Màn cuộc đời khép lại đã bắt đầu. 



38
Под деревом близ моря я сижу,
Под шелест волн и листьев я пишу.
Кто ж автор песни, как решить не споря —
Иль я, поэт, иль дерево, иль море?

38
Tôi ngồi viết dưới cây, bên bờ biển 
Tiếng lá cây, tiếng sóng biển rì rào. 
Ai là tác giả - thật khó nói làm sao 
Tôi, nhà thơ hay là cây hay biển. 


39
Про старость люди б ничего не знали,
Когда бы молодыми умирали.
Мне молодость, конечно, не в укор,
И старость мне, конечно, не позор.

39
Con người ta sẽ không biết tuổi già 
Nếu người ta đều chết khi còn trẻ. 
Tôi, tất nhiên, chẳng trách gì tuổi trẻ 
Và cũng không xấu hổ bởi tuổi già. 


40
Роятся роем мысли в голове,
А мне необходимы только две.
Двух мыслей мне достаточно, поверьте,
Одной — о жизни и одной — о смерти.

40
Có thật nhiều ý nghĩ trong đầu tôi 
Nhưng thực ra chỉ cần hai ý nghĩ 
Hai ý nghĩ, với tôi, là đầy đủ 
Một – cuộc đời, một – cái chết mà thôi. 



THƠ BỐN CÂU - 21-30


21
Из всех дорог я три дороги знаю,
С которых не сойдешь ни ты, ни я.
Поэзия – одна, и смерть – другая.
А третья? Та у каждого – своя.

21
Từ mọi con đường anh biết có ba: 
Những con đường mà ta không rời bỏ 
Chết – một đường, một đường khác – thơ ca 
Đường thứ ba? Thì mỗi người đều có. 


22
Огонь, долги, болезни, враг,
Невзгоды, протекающие крыши, –
Преуменьшает лишь дурак
Значенье перечисленного выше.

22
Lửa, nợ nần, bệnh tật và kẻ thù 
Những tai ương chảy trong đời như thế 
Đi coi nhẹ – chỉ có những người ngu – 
Tầm quan trọng của những điều vừa kể. 


23
«Что бесполезней, чем незрелый плод,
Который раньше времени сорвали?»
«Упавший плод, что на земле гниет
Лишь потому, что вовремя не сняли».

23
“Còn gì vô bổ bằng trái cây non nớt 
Bị người ta đem hái trước thời gian?” 
“Nhưng rơi xuống đất trái cây mục nát 
Cũng chỉ vì không hái đúng thời gian”. 


24
«Чего ты хочешь, человек голодный?» – «Еды!»
«Что хочешь ты, бездомный, в день холодный?» – Крова!»
«Что надо, жаждущий, тебе?» – «Воды!»
«Что надо, страждущий, тебе?» – «Слова!»

24
“Ngươi muốn gì hỡi người đang đói?” – “Đồ ăn!” 
“Ngươi muốn gì kẻ không nhà?” – “Chốn nương thân!” 
“Ngươi cần gì, người đang khát?” – “Chỉ nước thôi!” 
“Ngươi cần gì, người đang đau khổ?” – “Cần lời!” 



25
«Отчего глаза пусты, как две дыры?»
«Нету мысли в них и боли нет».
«Отчего глаза пылают, как костры?»
«Мысль и боль в них зажигают свет!»

25
“Sao đôi mắt giống như hai cái lỗ?” 
“Đau đớn, nghĩ suy trong đó không còn!” 
“Sao đôi mắt cháy bừng như ngọn lửa?” 
“Đau đớn, nghĩ suy trong đó cháy lên!” 


26
Разделены два глаза меж собою,
Чтоб им не причинять друг другу боль.
Друг друга недолюбливают двое,
Когда они одну играют роль.

26
Hai con mắt chia ra ở hai nơi 
Để mắt này không làm đau mắt khác 
Hai con người sẽ tị hiềm, ghen ghét 
Khi cả hai người cùng đóng một vai. 


27
Я счастлив: не безумен и не слеп,
Просить судьбу мне не о чем, но все же
Пусть будет на земле дешевле хлеб,
А человеческая жизнь - дороже. 

27
Tôi hạnh phúc chẳng mù không kém trí 
Chẳng có gì phải trách phận, than thân 
Nhưng vẫn mong cho bánh mỳ thêm rẻ 
Còn mạng người thêm một chút đắt hơn. 



28
Из раны кровь стекает струйкой длинной,
Но ни слезинки... Есть у нас закон:
Дороже крови слезы для мужчины.
А иначе – какой мужчина он?

28
Từ vết thương máu đang chảy thành dòng 
Nhưng nước mắt thì không. . . theo qui luật: 
Quí hơn máu – nước mắt với đàn ông 
Còn nếu không –  sao gọi đàn ông được?  


29
«Бесстрастные, что вы отвергли?» – «Страсть!»
«А страстью кто отвержен?» – «Мы, бесстрастные!»
«Подвластные, кто вас рождает?» – «Власть!»
«А кто ее рождает?» – «Мы, подвластные!»

29
-Tại vì đâu sinh ra quyền hành, bạo lực? 
-Từ yếu đuối của con người chúng được sinh ra. 
-Thế yếu đuối của con người từ đâu có được? 
-Cũng bởi từ quyền hành, bạo lực mà ra. 


30
«Кто счастливее, чем человек.
Что недуга отродясь не знал?»
«Только тот, кто зависти вовек
Ни к врагу, ни к другу не питал!»

30
“Trên đời này còn ai hạnh phúc hơn 
Người khỏe mạnh, không biết gì bệnh hoạn?” 
“Chỉ có ai không biết giận, biết thương 
Không ghen tỵ với cả thù và bạn!” 



THƠ BỐN CÂU - 11-20


11
«Мне женщина снилась в преддверии дня,
А вы, петухи, разбудили меня!»
«Ты лучше за то помолись, человек,
Чтоб мы тебя только будили весь век». 

11
“Tôi mơ thấy người phụ nữ lúc gần sáng 
Thế mà những chú gà sao lại thức tôi!” 
“Con người ơi, tốt hơn là cầu nguyện 
Vì chúng tôi đã thức bạn suốt đời”. 


12
«Что снилось, друг?» – «Забыл, что снилось ночью!»
«То не беда! Хочу я пожелать,
Чтоб этот день тебе предстал воочью,
Как четки лет начнешь перебирать!»

12
“Bạn mơ thấy gì?” – “Quên rồi giấc mơ đêm!” 
“Cũng chả sao! Tôi chúc cho điều khác 
Cho ngày này bạn hình dung rõ ràng 
Như tràng hạt bắt đầu lần từng hạt!” 


13
От альпинистов, от людей бывалых
Я знаю: спуск труднее, чем подъем.
Мне сорок лет, достиг я перевала,
Мой путь трудней и круче с каждым днем.

13
Từ những người vận động viên leo núi 
Tôi biết rằng đi xuống khó hơn lên 
Tôi bốn mươi, đỉnh cao tôi đạt tới 
Giờ con đường ngày một khó khăn thêm. 


14
Поет у моего окошка ветер
Ту песню, что претит мне издавна;
А ту, что мне милей всего на свете,
Поет он у соседского окна.

14
Ngọn gió hát bên cửa sổ của tôi 
Một bài hát từ lâu tôi đã chán 
Ngọn gió hát bên cửa sổ của người 
Một bài hát tôi vô cùng yêu mến. 



15
С какой вершины я ни брошу камня,
Он вниз летит и пропадает там,
В какой низине песня б ни пришла мне,
Она летит к моим родным горам.

15
Dù từ đỉnh cao nào tôi ném đá 
Thì đá cũng rơi xuống dưới mà thôi 
Dù từ thung lũng nào bài ca tôi thả 
Thì bài ca cũng bay về với núi đồi. 


16
Смерть унесет и нас, и все, чем мы живем.
Избегнет лишь любовь ее прикосновенья.
Так ворон прочь летит, когда он видит дом,
Где в теплом очаге горят еще поленья.

16
Đến một ngày thần chết sẽ bắt ta 
Duy chỉ có tình yêu là tránh khỏi. 
Qụa ngừng bay khi nhìn thấy ngôi nhà 
Trong lò sưởi đang cháy từng thanh củi. 


17
Распределение земных щедрот
Порой несправедливо в жизни нашей.
Я стал беззуб – суют мне мясо в рот,
Был при зубах я – пробавлялся кашей. 

17
Sự phân chia của cải trong trời đất 
Sao lại trớ trêu như thế hả đời. 
Khi không còn răng – cho tôi ăn thịt 
Khi răng đủ đầy – ăn cháo không thôi. 



18
Жизнь – мельница, и годы мелет жернов,
Не зная отдыха, не зная сна,
И крутится тем легче и проворней,
Чем больше он уже смолол зерна.

18
Đời – chiếc cối xay, tháng năm xay dần cạn 
Không biết nghỉ ngơi biết ngủ là gì. 
Quay càng nhẹ nhàng, quay càng nhanh nhẹn 
Khi trong lòng thóc lúa đã vơi đi. 


19
Не будь сумы на свете да тюрьмы,
Я стал бы оптимистом самым рьяным.
Когда бы все бессмертны были мы,
Я был бы атеистом самым рьяным.

19
Nếu trên đời không còn lắm nhà tù 
Thì tôi làm người lạc quan biết mấy. 
Nếu bất tử cho tất cả chúng ta 
Thì tôi sẽ làm kẻ vô thần vậy. 


20
Мы, путники, спокойны в час,
Когда собак не замечаем.
Когда они не видят нас,
Еще спокойней мы бываем.

20
Ta là khách viễn du, chỉ yên trong giờ phút 
Những con chó kia ta không để ý nhìn. 
Còn khi chúng không thấy ta là lúc 
Ta cảm thấy mình càng lặng yên hơn. 


THƠ BỐN CÂU - 1-10


1
«Кому несладко жить у нас, людей?»
«Кому не верят, тяжело тому!»
«Ну а кому гораздо тяжелей?»
«Тому, кто сам не верит никому!»

1
“Trong chúng ta ai vất vả với đời?” 
“Đó là người không có ai tin cả!” 
“Trong chúng ta vất vả nhất là người?” 
“Đó là người không tin vào ai cả!” 


2
«Птицы, что молчите вы с рассвета?»
«Дождь идет, мы слушаем его!»
«Почему молчите вы, поэты?»
«Дождь идет, мы слушаем его!» 

2
“Chim chóc ơi, sao các người lặng thế?” 
“Chúng tôi đang im lặng để nghe mưa!” 
“Các nhà thơ, sao các người lặng lẽ?” 
“Chúng tôi đang im lặng để nghe mưa!” 


3
«Кто многословней всех?» – «Девица зрелых лет,
На чью красу никто не обратил вниманья».
«Кто многословней всех?» – «Немолодой поэт,
Что пишет много лет, но не обрел признанья!»

3
“Ai lắm lời bằng gái già quá lứa? 
Sắc đẹp kia thiên hạ chẳng ai nhìn.” 
“Ai lắm lời bằng nhà thơ không còn trẻ? 
Viết nhiều năm nhưng không có được cái tên!” 



4
Глаза у нас намного выше ног,
В том смысл я вижу и особый знак:
Мы так сотворены, чтоб каждый мог
Все оглядеть, пред тем как сделать шаг.

4
Đôi mắt ta cao hơn hẳn đôi chân 
Theo nghĩa đó, tôi thấy điều đặc biệt: 
Trời sinh ra sao cho cứ mỗi lần 
Trước khi bước, đôi mắt nhìn thấy hết. 


5
Рожденье – это первый перевал,
Смерть – перевал второй, конец пути.
А ты, по простоте своей, мечтал
До перевала сотого дойти! 

5
Ta sinh ra là ngọn đèo thứ nhất 
Chết - đèo thứ hai, là cuối con đường 
Thế mà ngươi cứ giản đơn ao ước 
Sẽ đi qua ngọn đèo thứ một trăm! 


6
Не будет пусть никто из нас голодным,
И пусть никто не будет слишком сыт;
Один от голода бывает злобным,
Другой нам зло от сытости творит. 

Hãy đừng để cho một ai quá đói 
Và cũng đừng để ai đó thật no: 
Người quá đói sẽ trở nên dữ dội 
Người quá no điều ác sẽ làm to. 


7
«Что мудрым делает юнца?»
«Горе!»
«Что делает мальчишкой мудреца?»
«Радость!»

7
“Điều gì biến bé con thành nhà thông thái?” 
“Đau buồn!” 
“Điều gì biến nhà thông thái thành trẻ dại?” 
“Hân hoan!” 



8
Чтоб стала человеком обезьяна,
Потребовалась вечность, а не век.
Зато в одно мгновенье, как ни странно,
Стать обезьяной может человек.

8
Để con khỉ có thể biến thành người 
Cần thời gian hàng trăm ngàn thế kỉ 
Thế mà có điều không khỏi nực cười 
Trong phút giây có thể người thành khỉ. 


9
С добрым утром! Взгляни: ждет за окнами белый
Необъезженный конь. Оседлай, если смел.
И не дай тебе бог век печалиться целый
От сознанья, что мог, но свершить не успел.

9
Sáng thức dậy hãy nhìn ra cửa sổ 
Con ngựa trắng đợi chờ. Hãy giục dây cương 
Lạy trời đừng để cho trăm năm đau khổ 
Vì những gì có thể làm mà không kịp làm xong. 


10
Что я желал бы под шатром судеб?
Всего, что вы желали бы, того же:
Чтоб легче и дешевле стал бы хлеб,
А слово и весомей, и дороже!

10
Tôi ước điều gì ở con tạo xoay vần? 
Là những gì mà các anh cũng thế: 
Sao cho bánh mỳ nhẹ nhàng hơn và rẻ 
Còn lời sẽ đắt hơn và sẽ nặng hơn! 


Thơ Trào Phúng - 10-14



10.На посещение выставки одного портретиста

На выставке смотрел твои работы,
Не жди похвал. Лукавить нет охоты!
Скажу одно: как никогда я ране
Теперь аллаха начал понимать.
Он запрещает, сказано в Коране,
Обличие людей изображать.

10.THĂM TRIỂN LÃM CỦA HỌA SĨ VẼ CHÂN DUNG

Tại triển lãm tôi xem tranh của bạn
Đừng đợi lời khen. Chẳng muốn giả vờ!
Chỉ một điều: trước đây chưa bao giờ
Còn bây giờ tôi bắt đầu hiểu Thánh.
Trong Koran ghi rằng Ngài đã cấm
Việc vẽ hình, vẽ khuôn mặt người ta.



11.Бездомный король
(Дагестанскому артисту,
играющему роли королей и царей)

На сцене он дворец имеет царский –
И тысячи дворцов, а не один!
Он – император, царь, эмир бухарский,
Король и шах и мира властелин!

Все вертится вокруг его персоны,
Все падает с небес к его ногам,
И все министры бьют ему поклоны,
И каждый – верноподданный слуга.

Но свет погашен. Публика одета.
А ведь король – земное существо,
И видят каждый день у горсовета
Фигуру королевскую его:

«Я вас прошу, товарищ председатель,
Не оставлять бездомным «короля»!
Хотя бы угол для ночлега дайте,
Где стол, кровать поместятся и я!»

И получает он ответ, в котором
Написано: «Строительство идет!
Пока не можем дать жилье актерам,
А королей не ставим на учет!»

11.HOÀNG ĐẾ VÔ GIA CƯ
(Tặng một nghệ sĩ Dagestan,
người chuyên đóng vai vua và hoàng đế)

Ông có cung điện ở trên sân khấu
Không chỉ một đâu mà có cả ngàn
Ông là hoàng đế, ông là đế vương
Là nhà vua, sa hoàng, là chúa tể.

Tất cả nhân vật đi xung quanh ông
Họ như người từ trời xanh rơi xuống
Cúi chào ông biết bao người bộ trưởng
Và ai ai cũng hết mực trung thành.

Nhưng đèn tắt. Khán giả khoác áo choàng
Còn nhà vua – sinh linh nơi trần thế
Cứ mỗi ngày tại Hội đồng thành phố
Thiên hạ nhìn vẻ hoàng đế của ông:

“Thưa đồng chí chủ tịch, cho tôi xin
Đừng để cảnh “ông hoàng” không nơi ở
Cho tôi xin dù một góc rất nhỏ
Nơi có bàn, giường chiếu ngủ qua đêm!”

Và ông nhận được câu trả lời rằng:
“Việc xây dựng tiến hành theo tiến độ!
Hiện chưa thể cấp nhà cho nghệ sĩ
Còn nhà vua trong sổ chẳng có tên!”


12.Письмо Гамзата Цадаса
в правление колхоза его имени

Вчера отец явился мне во сне,
В очах мерцала горькая угроза,
И на листе бумаги в тишине
Он написал: «В правление колхоза.

Одно из двух, – потребовал отец, –
Иль воровству, которое отвратно,
Немедля вы положите конец,
Иль имя заберу свое обратно!»

12.THƯ CỦA GAMZAT TSADASA GỬI
BAN LÃNH ĐẠO NÔNG TRƯỜNG MANG TÊN ÔNG

Trong giấc mơ hôm qua bố về thăm
Đôi mắt ông hiện lên điều cay đắng
Lên tờ giấy trắng tinh, trong im lặng
Ông viết: “Gửi ban lãnh đạo nông trường –

– Ông yêu cầu một trong hai điều rằng –
Hoặc nạn trộm cắp hiện đang hoành hành
Quí vị cần chấm dứt ngay lập tức
Hoặc là tôi xin rút lại tên mình!”
____________
*Gamzat Tsadasa (1877 – 1951) – Nhà thơ nhân dân Dagestan, bố của Rasul Gamzatov. 



13.Гипнотизер

Один поэт, рожденный среди гор,
Клянусь, был истинный гипнотизер.
Он всякий раз, когда стихи читал,
Мог усыпить неосторожный зал.

13.NGƯỜI THÔI MIÊN

Một nhà thơ sinh ra giữa núi rừng
Xin thề là nhà thôi miên đích thực
Cứ mỗi lần anh mang thơ ra đọc
Là khán phòng sơ suất bị thôi miên.


14.Строки, которые я написал в молодости
по поводу Гибели Махмуда

«Мозг золотой в серебряном ларце,
Нашел бы ты достойнее кончину,
Под плеть когда бы не подставил спину
И принял бой с улыбкой на лице».

14.NHỮNG DÒNG TÔI VIẾT KHI CÒN TRẺ
VỀ CÁI CHẾT CỦA MAHMUT

“Bộ não vàng trong chiếc hòm bằng bạc
Anh đã có thể tìm cái chết xứng đáng hơn
Dưới cái roi giá không đặt vào lưng
Vào trận với nụ cười trên gương mặt”.